Định hướng nghề nghiệp 4.0 Vai trò của định hướng Nghề nghiệp
ky-nang-tuyen-truyen-pho-bien-giao-duc-phap-luat...

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:59' 04-05-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:59' 04-05-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
KỸ NĂNG
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
TS. HOµNG PHONG Hµ
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
TS. ĐỖ XUÂN LÂN
KỸ NĂNG
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUÓC GIA
NHÀ XUẤT BẢN
VĂN HÓA DÂN TỘC
CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ,
lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng,
cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
Để thực hiện tốt bổn phận và trách nhiệm này, một mặt
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ phải học hiểu lý
luận, chính sách, tình hình trong nước và trên thế giới, để
giáo dục cho quần chúng; phải học hiểu nghề nghiệp
chuyên môn mà Đảng và Chính phủ giao cho mình phụ
trách; đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân
phục, dân yêu, phải kính dân, trọng dân, việc gì có lợi cho
dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải
hết sức tránh. Mặt khác, mỗi cán bộ, chính quyền và đoàn
thể phải luôn luôn gần gũi Nhân dân, ra sức nghe ngóng
và hiểu biết Nhân dân, học hỏi Nhân dân, lãnh đạo Nhân
dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục,
tổ chức Nhân dân, dựa vào Nhân dân để thực hiện
nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Ngày 20-6-2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật
phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, lần đầu tiên
5
quyền được thông tin về pháp luật của công dân được
ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Theo đó, công dân có
quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm
chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Nhà nước bảo
đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được
thông tin về pháp luật. Về mặt chính sách, công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ
thống chính trị, trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và
cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân là
phải tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các
khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật;
gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật. Đồng thời,
phải chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt
động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ và hỗ trợ, giúp đỡ
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực công tác.
Cuốn sách Kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật dành cho cán bộ cơ sở do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất
bản Văn hóa dân tộc do TS. Đỗ Xuân Lân biên soạn sẽ
cung cấp những nhận thức cơ bản về vị trí, vai trò và
trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã; về tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cùng những kỹ
năng cơ bản giúp cán bộ, công chức cấp xã có điều kiện
tham gia tích cực và chủ động hơn trong công tác này.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
A. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
1. Theo quy định của pháp luật, những
người nào là cán bộ xã, phường, thị trấn?
Theo điểm 3 Điều 4; khoản 2 Điều 61 Luật cán
bộ, công chức năm 2008, cán bộ xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm các
chức vụ sau đây:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
7
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (đối với cấp
xã có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có
tổ chức Hội Nông dân Việt Nam).
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
2. Người nào là công chức cấp xã?
Theo điểm 3 Điều 4; khoản 3 Điều 61 Luật cán
bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã là công
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, bao gồm các chức danh sau đây:
- Trưởng Công an.
- Chỉ huy trưởng Quân sự.
- Văn phòng - thống kê.
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường
(đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông
nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã).
- Tài chính - kế toán.
- Tư pháp - hộ tịch.
- Văn hóa - xã hội.
3. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp
xã trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật?
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng
trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
8
Cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng,
Nhà nước, đoàn thể với Nhân dân, là người trực
tiếp được giao thực thi công tác dân vận, là tấm
gương để mọi người noi theo. Lúc sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng viên và cán
bộ nhất định phải làm cho quần chúng thấm
nhuần tư tưởng cách mạng. Nhất định phải theo
nhu cầu của quần chúng mà xây dựng những tổ
chức cách mạng hợp với trình độ của quần chúng.
Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công
việc... Nhất định phải vào sâu trong quần chúng,
hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần
chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và
tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”1.
Cán bộ, công chức cấp xã là người đưa chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, điều lệ, nghị quyết của các đoàn thể đến với
Nhân dân; đồng thời, phát hiện những vướng mắc,
bất cập trong các chủ trương, chính sách, các quy
định của pháp luật và những vấn đề mới phát
sinh và nắm bắt đầy đủ tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân để báo cáo lại cho Nhà
nước, cho Đảng và đoàn thể mà mình là thành
viên biết nhằm điều chỉnh chính sách, quy định
cho phù hợp. Sinh thời, Bác Hồ từng khẳng định:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8, tr.278.
9
của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ
và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ,
để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái
gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ
là công việc gốc của Đảng”1.
Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực
tiếp tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các công việc
liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cơ sở. Hoạt động
thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã có
tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân nên chất lượng hoạt động
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phản ánh
mức độ phục vụ của Nhà nước đối với xã hội.
Nhấn mạnh vai trò này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Cán bộ quyết định mọi việc... Công việc
thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng
đạo đức, thái độ và lề lối làm việc...”2.
4. Pháp luật quy định như thế nào về
chức trách của công chức cấp xã?
Theo Điều 1 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
ngày 30-10-2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về
chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển
dụng công chức xã, phường, thị trấn (sau đây,
_______________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309; t.7,
tr.415.
10
gọi tắt là Thông tư số 06/2012/TT-BNV) thì công
chức cấp xã làm công tác chuyên môn thuộc biên
chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm
tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công
tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ
khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
Nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ, công chức
nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhiệm vụ của
Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân
dân. Nghĩa là làm đày tớ cho dân... Đã phụng sự
nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là
việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì
hại cho dân, thì phải hết sức tránh. Lại phải hiểu
và làm cho dân hiểu: Lợi ích tạm thời và lợi ích
riêng, phải phục tòng lợi ích lâu dài và lợi ích
chung. Lợi ích địa phương phải phục tòng lợi ích
toàn quốc, toàn dân tộc. Muốn làm được như vậy,
thì mỗi cán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:
- Luôn luôn gần gũi Nhân dân.
- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết Nhân dân.
- Học hỏi Nhân dân.
- Lãnh đạo Nhân dân bằng cách tuyên truyền,
giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức Nhân dân,
dựa vào Nhân dân để thực hiện nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân”1.
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.432.
11
5. Pháp luật quy định như thế nào về tiêu
chuẩn đối với công chức cấp xã?
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số
112/2011/NĐ-CP ngày 05-12-2011 của Chính phủ
về công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt
là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) thì công chức
cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung sau đây:
- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững
quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có năng lực tổ chức vận động Nhân dân ở địa
phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc
làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành
nhiệm vụ được giao;
- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán
của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.
Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp
xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn
nêu trên còn phải có khả năng phối hợp với các
đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và
lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng
nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số
nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng,
chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân
dân, tài sản của Nhà nước.
12
Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp
xã như sau:
- Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên.
- Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ
thông.
- Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp
chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức
được đảm nhiệm.
- Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn
phòng trình độ A trở lên.
- Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác
phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt
động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân
tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu
khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu
số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học
tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công
tác được phân công.
- Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành
lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà
nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
theo chương trình đối với chức danh công chức cấp
xã hiện đảm nhiệm.
Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư số 06/2012/
TT-BNV quy định về tiêu chuẩn đặc thù của công
chức cấp xã như sau:
- Tiêu chuẩn đối với chức danh Chỉ huy trưởng
13
Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện
theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối
với các chức danh này. Trong trường hợp pháp
luật chuyên ngành không quy định thì thực hiện
theo tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã
nêu trên.
- Căn cứ vào tiêu chuẩn của công chức cấp xã
và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định:
+ Giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã đã
được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc
khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng
thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã
theo quy định;
+ Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ
của từng chức danh công chức cấp xã;
+ Thời gian để công chức cấp xã mới được
tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc
thiểu số; lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành
chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị theo quy định.
6. Quyền, nghĩa vụ chung của cán bộ, công
chức cấp xã được quy định như thế nào?
Điều 62 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
14
định, cán bộ, công chức cấp xã có các nghĩa vụ,
quyền chung sau đây:
- Thực hiện các nghĩa vụ, quyền theo quy định
tại Luật cán bộ, công chức năm 2008, quy định
khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ
chức mà mình là thành viên.
- Cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ
được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ
chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy
định của pháp luật được xem xét chuyển thành
công chức, trong trường hợp này, được miễn chế độ
tập sự và hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu
không được chuyển thành công chức mà chưa đủ
điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực
hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của
pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được
điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có
thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải
quyết chế độ theo quy định của pháp luật.
7. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân được
quy định như thế nào?
Theo Điều 8 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, cán bộ, công
chức cấp xã có các nghĩa vụ sau đây:
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
15
- Tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ
Nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước.
8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
trong thi hành công vụ được quy định như
thế nào?
Theo Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
có các nghĩa vụ sau đây:
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách
nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn được giao.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp
hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn
vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện
hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi
hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết
kiệm tài sản nhà nước được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có
căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì
16
phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra
quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn
quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và
người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu
trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng
thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết
định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về quyết định của mình.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
được quy định như thế nào?
Điều 10 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định, ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8,
Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì cán
bộ, công chức cấp xã là người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị còn có các nghĩa vụ sau đây:
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao
và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị.
- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành
công vụ của cán bộ, công chức.
- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc
để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong
cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật
17
về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ,
công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm
kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, gây phiền hà cho công dân.
- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo
thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị
của cá nhân, tổ chức.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
10. Quyền được bảo đảm các điều kiện thi
hành công vụ của cán bộ, công chức cấp xã
được quy định như thế nào?
Theo Điều 11 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
có quyền được bảo đảm các điều kiện sau đây:
- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
- Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện
làm việc khác theo quy định của pháp luật.
- Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.
11. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền
lương được quy định như thế nào?
Về tiền lương và các chế độ liên quan đến
18
tiền lương, Điều 12 Luật cán bộ, công chức năm 2008
quy định, cán bộ, công chức cấp xã được Nhà nước
bảo đảm các quyền sau đây:
- Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương
xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên
giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có
môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ
cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của
pháp luật.
- Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm,
công tác phí và các chế độ khác theo quy định của
pháp luật.
12. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
nghỉ ngơi được quy định như thế nào?
Điều 13 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định, cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ
lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của
pháp luật về lao động.
Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công
chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số
ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được
thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương
cho những ngày không nghỉ.
19
13. Pháp luật quy định như thế nào về các
quyền khác của cán bộ, công chức cấp xã?
Điều 14 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định về các quyền khác của cán bộ, công chức cấp
xã như sau:
Cán bộ, công chức cấp xã được bảo đảm quyền
học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt
động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu
đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật;
nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành
công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách
như thương binh hoặc được xem xét để công nhận
là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của
pháp luật.
14. Đạo đức và văn hóa giao tiếp của cán
bộ, công chức cấp xã được quy định như
thế nào?
- Về đạo đức, Điều 15 Luật cán bộ, công chức
năm 2008 quy định, cán bộ, công chức cấp xã phải
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
trong hoạt động công vụ.
- Về văn hóa giao tiếp ở công sở, Điều 16 Luật
cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
+ Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức
20
phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn
ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
+ Phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công
bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá;
thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.
+ Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải
mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong
lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ
chức, đơn vị và đồng nghiệp.
- Về văn hóa giao tiếp với Nhân dân, Điều 17
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
+ Phải gần gũi với Nhân dân; có tác phong,
thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ
giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
+ Không được hách dịch, cửa quyền, gây khó
khăn, phiền hà cho Nhân dân khi thi hành công vụ.
15. Những việc nào cán bộ, công chức cấp
xã không được làm?
Cán bộ, công chức cấp xã không được làm
những việc sau đây:
- Những việc không được làm liên quan đến
đạo đức công vụ (Điều 18 Luật cán bộ, công chức
năm 2008):
+ Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ
được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc
hoặc tham gia đình công.
21
+ Sử dụng tài sản của Nhà nước và của Nhân
dân trái pháp luật.
+ Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử
dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
+ Phân biệt đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
- Những việc không được làm liên quan đến bí
mật nhà nước (Điều 19 Luật cán bộ, công chức
năm 2008):
+ Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí
mật nhà nước dưới mọi hình thức.
+ Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề
có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời
hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định
nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có
liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình
đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước,
tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với
nước ngoài.
- Những việc không được làm khác (Điều 20
Luật cán bộ, công chức năm 2008):
Cán bộ, công chức không được làm những việc
liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác
nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham
nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
và những việc khác theo quy định của pháp luật
và của cơ quan có thẩm quyền, ví dụ:
22
Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng năm
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 20121 quy định
những việc cán bộ, công chức, viên chức không
được làm như sau:
- Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền
hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong
khi giải quyết công việc.
- Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia
quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư
và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có
liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác,
_______________
1. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005 là Luật
số 55/2005/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2007 đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 04-8-2007 là
Luật số 01/2007/QH12: Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012
đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23-11-2012
là Luật số 27/2012/QH13.
23
những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình hoặc mình tham gia giải quyết.
- Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây
mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức
vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định
của Chính phủ.
- Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ
quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không
được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong
phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực
hiện việc quản lý nhà nước.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc
chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ
chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá,
ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ,
con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý
trực tiếp.
- Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng
giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
trưởng và những cán bộ quản lý khác trong
doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết
24
hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ
hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho
phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc
chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự
các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ
hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ
chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp
hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết
hợp đồng cho doanh nghiệp.
- Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 37
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2007, 2012 cũng được áp dụng đối với
các đối tượng sau đây:
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân;
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ
quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân.
B. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật là gì?
Tuyên truyền pháp luật là việc công bố, giới
thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật để mọi
25
người biết; động viên, thuyết phục để mọi người
tin tưởng và thực hiện đúng pháp luật1.
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa: Nghĩa hẹp là
giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối
tượng của nó; nghĩa rộng là truyền bá pháp luật
cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước2.
Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có
tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động
lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và
thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri
thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các
đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành3.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có
hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: Là truyền đạt tinh thần, nội
dung pháp luật, giúp cho đối tượng tác động hiểu,
tin tưởng và hình thành ở họ tri thức pháp luật,
tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các
quy định pháp luật hiện hành.
_______________
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cẩm nang công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật (Dành cho cán bộ quản lý, báo cáo
viên, cán bộ phụ trách công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật ngành giáo dục), Hà Nội, 2007, tr.2.
2. Dự án VIE/98/001 “Tăng cường năng lực pháp luật
tại Việt Nam - giai đoạn II”: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ
phổ biến, giáo dục pháp luật (kỷ yếu dự án), Hà Nội, 2002,
tr.7.
3. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1998, tr.9.
26
Nghĩa thứ hai: Là công tác, lĩnh vực hoạt
động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho
việc thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch;
triển khai chương trình, kế hoạch thông qua
việc áp dụng các hình thức, biện pháp tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện
chương trình, kế hoạch)1.
2. Mục đích của tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật là gì?
Trước hết, thông qua tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật nhằm truyền tải, cung cấp
những thông tin, những nội dung và các quy định
của pháp luật đến với các cơ quan, tổ chức, cá
nhân, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu biết,
nắm bắt kịp thời về các quy định của pháp luật mà
không phải mất nhiều thời gian, công sức cho việc
tự tìm hiểu, tự học tập. Đó là phương tiện hỗ trợ
tích cực việc hình thành, làm sâu sắc và từng bước
mở rộng hệ thống tri thức hiểu biết pháp luật.
Thứ hai, qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hình
thành lòng tin vào pháp luật, có thái độ, tình cảm
pháp luật đúng đắn; hình thành động cơ của hành
_______________
1. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
cho cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, Sđd, tr.9.
27
vi hợp pháp - hành vi tích cực pháp luật. Từ đó,
mỗi người hình thành thói quen tuân theo những
quy định của pháp luật (kiềm chế không thực hiện
những hành vi bị pháp luật cấm đoán); thói quen
thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và sử dụng
các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của chủ thể
khác và toàn xã hội; thói quen áp dụng pháp luật
để vận dụng thành thạo các tri thức hiểu biết
pháp luật trong thực tiễn cuộc sống.
Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật để mỗi chủ thể nhận thức đầy đủ bổn phận và
trách nhiệm của mình đối với Nhà nước và xã hội,
từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật;
tích cực và chủ động tham gia vào đời sống chính
trị - kinh tế - văn hóa, góp phần nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật có vai trò gì trong xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện (bảo
đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ, toàn
diện, tính phù hợp và khả thi, tính hiệu quả, ngôn
ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, chứa đựng
các giá trị dân chủ, nhân đạo, công bằng, vì mọi
người; các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội phải
28
được tôn trọng và bảo đảm thực hiện). Nhà nước
tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật; thực hiện quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa (các chủ thể có nghĩa vụ tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được
thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất, bình đẳng).
Trước những yêu cầu đó, tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng,
trực tiếp góp phần vào việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
Trước hết, đây là cách thức, biện pháp cơ bản,
có hiệu lực, hiệu quả nhất để đưa chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực và
kiểm nghiệm tính đúng đắn trong thực tiễn. Từ
thực tiễn triển khai, tổ chức thực hiện thể chế,
chính sách, quy định pháp luật để từ đó, phát hiện
những vấn đề còn vướng mắc, bất cập, những vấn
đề mới phát sinh hoặc không còn phù hợp để kịp
thời sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp.
Tiếp đến, công tác này thể hiện trách nhiệm
của Nhà nước, thể hiện bản chất Nhà nước ta là
Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
dân, là phương thức...
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
TS. HOµNG PHONG Hµ
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
TS. ĐỖ XUÂN LÂN
KỸ NĂNG
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUÓC GIA
NHÀ XUẤT BẢN
VĂN HÓA DÂN TỘC
CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ,
lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng,
cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
Để thực hiện tốt bổn phận và trách nhiệm này, một mặt
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ phải học hiểu lý
luận, chính sách, tình hình trong nước và trên thế giới, để
giáo dục cho quần chúng; phải học hiểu nghề nghiệp
chuyên môn mà Đảng và Chính phủ giao cho mình phụ
trách; đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân
phục, dân yêu, phải kính dân, trọng dân, việc gì có lợi cho
dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải
hết sức tránh. Mặt khác, mỗi cán bộ, chính quyền và đoàn
thể phải luôn luôn gần gũi Nhân dân, ra sức nghe ngóng
và hiểu biết Nhân dân, học hỏi Nhân dân, lãnh đạo Nhân
dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục,
tổ chức Nhân dân, dựa vào Nhân dân để thực hiện
nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Ngày 20-6-2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật
phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, lần đầu tiên
5
quyền được thông tin về pháp luật của công dân được
ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Theo đó, công dân có
quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm
chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Nhà nước bảo
đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được
thông tin về pháp luật. Về mặt chính sách, công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ
thống chính trị, trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và
cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân là
phải tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các
khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật;
gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật. Đồng thời,
phải chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt
động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ và hỗ trợ, giúp đỡ
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực công tác.
Cuốn sách Kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật dành cho cán bộ cơ sở do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất
bản Văn hóa dân tộc do TS. Đỗ Xuân Lân biên soạn sẽ
cung cấp những nhận thức cơ bản về vị trí, vai trò và
trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã; về tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cùng những kỹ
năng cơ bản giúp cán bộ, công chức cấp xã có điều kiện
tham gia tích cực và chủ động hơn trong công tác này.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
A. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
1. Theo quy định của pháp luật, những
người nào là cán bộ xã, phường, thị trấn?
Theo điểm 3 Điều 4; khoản 2 Điều 61 Luật cán
bộ, công chức năm 2008, cán bộ xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm các
chức vụ sau đây:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
7
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (đối với cấp
xã có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có
tổ chức Hội Nông dân Việt Nam).
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
2. Người nào là công chức cấp xã?
Theo điểm 3 Điều 4; khoản 3 Điều 61 Luật cán
bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã là công
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, bao gồm các chức danh sau đây:
- Trưởng Công an.
- Chỉ huy trưởng Quân sự.
- Văn phòng - thống kê.
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường
(đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông
nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã).
- Tài chính - kế toán.
- Tư pháp - hộ tịch.
- Văn hóa - xã hội.
3. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp
xã trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật?
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng
trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
8
Cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng,
Nhà nước, đoàn thể với Nhân dân, là người trực
tiếp được giao thực thi công tác dân vận, là tấm
gương để mọi người noi theo. Lúc sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng viên và cán
bộ nhất định phải làm cho quần chúng thấm
nhuần tư tưởng cách mạng. Nhất định phải theo
nhu cầu của quần chúng mà xây dựng những tổ
chức cách mạng hợp với trình độ của quần chúng.
Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công
việc... Nhất định phải vào sâu trong quần chúng,
hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần
chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và
tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”1.
Cán bộ, công chức cấp xã là người đưa chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, điều lệ, nghị quyết của các đoàn thể đến với
Nhân dân; đồng thời, phát hiện những vướng mắc,
bất cập trong các chủ trương, chính sách, các quy
định của pháp luật và những vấn đề mới phát
sinh và nắm bắt đầy đủ tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân để báo cáo lại cho Nhà
nước, cho Đảng và đoàn thể mà mình là thành
viên biết nhằm điều chỉnh chính sách, quy định
cho phù hợp. Sinh thời, Bác Hồ từng khẳng định:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8, tr.278.
9
của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ
và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ,
để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái
gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ
là công việc gốc của Đảng”1.
Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực
tiếp tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các công việc
liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cơ sở. Hoạt động
thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã có
tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân nên chất lượng hoạt động
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phản ánh
mức độ phục vụ của Nhà nước đối với xã hội.
Nhấn mạnh vai trò này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Cán bộ quyết định mọi việc... Công việc
thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng
đạo đức, thái độ và lề lối làm việc...”2.
4. Pháp luật quy định như thế nào về
chức trách của công chức cấp xã?
Theo Điều 1 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
ngày 30-10-2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về
chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển
dụng công chức xã, phường, thị trấn (sau đây,
_______________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309; t.7,
tr.415.
10
gọi tắt là Thông tư số 06/2012/TT-BNV) thì công
chức cấp xã làm công tác chuyên môn thuộc biên
chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm
tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công
tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ
khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
Nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ, công chức
nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhiệm vụ của
Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân
dân. Nghĩa là làm đày tớ cho dân... Đã phụng sự
nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là
việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì
hại cho dân, thì phải hết sức tránh. Lại phải hiểu
và làm cho dân hiểu: Lợi ích tạm thời và lợi ích
riêng, phải phục tòng lợi ích lâu dài và lợi ích
chung. Lợi ích địa phương phải phục tòng lợi ích
toàn quốc, toàn dân tộc. Muốn làm được như vậy,
thì mỗi cán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:
- Luôn luôn gần gũi Nhân dân.
- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết Nhân dân.
- Học hỏi Nhân dân.
- Lãnh đạo Nhân dân bằng cách tuyên truyền,
giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức Nhân dân,
dựa vào Nhân dân để thực hiện nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân”1.
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.432.
11
5. Pháp luật quy định như thế nào về tiêu
chuẩn đối với công chức cấp xã?
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số
112/2011/NĐ-CP ngày 05-12-2011 của Chính phủ
về công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt
là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) thì công chức
cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung sau đây:
- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững
quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có năng lực tổ chức vận động Nhân dân ở địa
phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc
làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành
nhiệm vụ được giao;
- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán
của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.
Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp
xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn
nêu trên còn phải có khả năng phối hợp với các
đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và
lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng
nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số
nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng,
chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân
dân, tài sản của Nhà nước.
12
Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp
xã như sau:
- Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên.
- Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ
thông.
- Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp
chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức
được đảm nhiệm.
- Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn
phòng trình độ A trở lên.
- Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác
phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt
động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân
tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu
khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu
số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học
tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công
tác được phân công.
- Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành
lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà
nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
theo chương trình đối với chức danh công chức cấp
xã hiện đảm nhiệm.
Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư số 06/2012/
TT-BNV quy định về tiêu chuẩn đặc thù của công
chức cấp xã như sau:
- Tiêu chuẩn đối với chức danh Chỉ huy trưởng
13
Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện
theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối
với các chức danh này. Trong trường hợp pháp
luật chuyên ngành không quy định thì thực hiện
theo tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã
nêu trên.
- Căn cứ vào tiêu chuẩn của công chức cấp xã
và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định:
+ Giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã đã
được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc
khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng
thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã
theo quy định;
+ Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ
của từng chức danh công chức cấp xã;
+ Thời gian để công chức cấp xã mới được
tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc
thiểu số; lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành
chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị theo quy định.
6. Quyền, nghĩa vụ chung của cán bộ, công
chức cấp xã được quy định như thế nào?
Điều 62 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
14
định, cán bộ, công chức cấp xã có các nghĩa vụ,
quyền chung sau đây:
- Thực hiện các nghĩa vụ, quyền theo quy định
tại Luật cán bộ, công chức năm 2008, quy định
khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ
chức mà mình là thành viên.
- Cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ
được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ
chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy
định của pháp luật được xem xét chuyển thành
công chức, trong trường hợp này, được miễn chế độ
tập sự và hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu
không được chuyển thành công chức mà chưa đủ
điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực
hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của
pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được
điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có
thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải
quyết chế độ theo quy định của pháp luật.
7. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân được
quy định như thế nào?
Theo Điều 8 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, cán bộ, công
chức cấp xã có các nghĩa vụ sau đây:
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
15
- Tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ
Nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước.
8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
trong thi hành công vụ được quy định như
thế nào?
Theo Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
có các nghĩa vụ sau đây:
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách
nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn được giao.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp
hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn
vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện
hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi
hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết
kiệm tài sản nhà nước được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có
căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì
16
phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra
quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn
quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và
người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu
trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng
thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết
định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về quyết định của mình.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
được quy định như thế nào?
Điều 10 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định, ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8,
Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì cán
bộ, công chức cấp xã là người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị còn có các nghĩa vụ sau đây:
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao
và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị.
- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành
công vụ của cán bộ, công chức.
- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc
để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong
cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật
17
về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ,
công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm
kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, gây phiền hà cho công dân.
- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo
thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị
của cá nhân, tổ chức.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
10. Quyền được bảo đảm các điều kiện thi
hành công vụ của cán bộ, công chức cấp xã
được quy định như thế nào?
Theo Điều 11 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
có quyền được bảo đảm các điều kiện sau đây:
- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
- Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện
làm việc khác theo quy định của pháp luật.
- Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.
11. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền
lương được quy định như thế nào?
Về tiền lương và các chế độ liên quan đến
18
tiền lương, Điều 12 Luật cán bộ, công chức năm 2008
quy định, cán bộ, công chức cấp xã được Nhà nước
bảo đảm các quyền sau đây:
- Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương
xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên
giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có
môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ
cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của
pháp luật.
- Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm,
công tác phí và các chế độ khác theo quy định của
pháp luật.
12. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
nghỉ ngơi được quy định như thế nào?
Điều 13 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định, cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ
lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của
pháp luật về lao động.
Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công
chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số
ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được
thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương
cho những ngày không nghỉ.
19
13. Pháp luật quy định như thế nào về các
quyền khác của cán bộ, công chức cấp xã?
Điều 14 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
định về các quyền khác của cán bộ, công chức cấp
xã như sau:
Cán bộ, công chức cấp xã được bảo đảm quyền
học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt
động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu
đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật;
nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành
công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách
như thương binh hoặc được xem xét để công nhận
là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của
pháp luật.
14. Đạo đức và văn hóa giao tiếp của cán
bộ, công chức cấp xã được quy định như
thế nào?
- Về đạo đức, Điều 15 Luật cán bộ, công chức
năm 2008 quy định, cán bộ, công chức cấp xã phải
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
trong hoạt động công vụ.
- Về văn hóa giao tiếp ở công sở, Điều 16 Luật
cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
+ Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức
20
phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn
ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
+ Phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công
bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá;
thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.
+ Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải
mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong
lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ
chức, đơn vị và đồng nghiệp.
- Về văn hóa giao tiếp với Nhân dân, Điều 17
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
+ Phải gần gũi với Nhân dân; có tác phong,
thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ
giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
+ Không được hách dịch, cửa quyền, gây khó
khăn, phiền hà cho Nhân dân khi thi hành công vụ.
15. Những việc nào cán bộ, công chức cấp
xã không được làm?
Cán bộ, công chức cấp xã không được làm
những việc sau đây:
- Những việc không được làm liên quan đến
đạo đức công vụ (Điều 18 Luật cán bộ, công chức
năm 2008):
+ Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ
được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc
hoặc tham gia đình công.
21
+ Sử dụng tài sản của Nhà nước và của Nhân
dân trái pháp luật.
+ Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử
dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
+ Phân biệt đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
- Những việc không được làm liên quan đến bí
mật nhà nước (Điều 19 Luật cán bộ, công chức
năm 2008):
+ Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí
mật nhà nước dưới mọi hình thức.
+ Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề
có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời
hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định
nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có
liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình
đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước,
tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với
nước ngoài.
- Những việc không được làm khác (Điều 20
Luật cán bộ, công chức năm 2008):
Cán bộ, công chức không được làm những việc
liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác
nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham
nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
và những việc khác theo quy định của pháp luật
và của cơ quan có thẩm quyền, ví dụ:
22
Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng năm
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 20121 quy định
những việc cán bộ, công chức, viên chức không
được làm như sau:
- Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền
hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong
khi giải quyết công việc.
- Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia
quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư
và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có
liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác,
_______________
1. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005 là Luật
số 55/2005/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2007 đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 04-8-2007 là
Luật số 01/2007/QH12: Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012
đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23-11-2012
là Luật số 27/2012/QH13.
23
những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình hoặc mình tham gia giải quyết.
- Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây
mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức
vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định
của Chính phủ.
- Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ
quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không
được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong
phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực
hiện việc quản lý nhà nước.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc
chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ
chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá,
ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ,
con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý
trực tiếp.
- Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng
giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
trưởng và những cán bộ quản lý khác trong
doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết
24
hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ
hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho
phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc
chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự
các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ
hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ
chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp
hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết
hợp đồng cho doanh nghiệp.
- Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 37
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2007, 2012 cũng được áp dụng đối với
các đối tượng sau đây:
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân;
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ
quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân.
B. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật là gì?
Tuyên truyền pháp luật là việc công bố, giới
thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật để mọi
25
người biết; động viên, thuyết phục để mọi người
tin tưởng và thực hiện đúng pháp luật1.
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa: Nghĩa hẹp là
giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối
tượng của nó; nghĩa rộng là truyền bá pháp luật
cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước2.
Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có
tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động
lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và
thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri
thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các
đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành3.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có
hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: Là truyền đạt tinh thần, nội
dung pháp luật, giúp cho đối tượng tác động hiểu,
tin tưởng và hình thành ở họ tri thức pháp luật,
tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các
quy định pháp luật hiện hành.
_______________
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cẩm nang công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật (Dành cho cán bộ quản lý, báo cáo
viên, cán bộ phụ trách công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật ngành giáo dục), Hà Nội, 2007, tr.2.
2. Dự án VIE/98/001 “Tăng cường năng lực pháp luật
tại Việt Nam - giai đoạn II”: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ
phổ biến, giáo dục pháp luật (kỷ yếu dự án), Hà Nội, 2002,
tr.7.
3. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1998, tr.9.
26
Nghĩa thứ hai: Là công tác, lĩnh vực hoạt
động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho
việc thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch;
triển khai chương trình, kế hoạch thông qua
việc áp dụng các hình thức, biện pháp tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện
chương trình, kế hoạch)1.
2. Mục đích của tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật là gì?
Trước hết, thông qua tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật nhằm truyền tải, cung cấp
những thông tin, những nội dung và các quy định
của pháp luật đến với các cơ quan, tổ chức, cá
nhân, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu biết,
nắm bắt kịp thời về các quy định của pháp luật mà
không phải mất nhiều thời gian, công sức cho việc
tự tìm hiểu, tự học tập. Đó là phương tiện hỗ trợ
tích cực việc hình thành, làm sâu sắc và từng bước
mở rộng hệ thống tri thức hiểu biết pháp luật.
Thứ hai, qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hình
thành lòng tin vào pháp luật, có thái độ, tình cảm
pháp luật đúng đắn; hình thành động cơ của hành
_______________
1. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
cho cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, Sđd, tr.9.
27
vi hợp pháp - hành vi tích cực pháp luật. Từ đó,
mỗi người hình thành thói quen tuân theo những
quy định của pháp luật (kiềm chế không thực hiện
những hành vi bị pháp luật cấm đoán); thói quen
thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và sử dụng
các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của chủ thể
khác và toàn xã hội; thói quen áp dụng pháp luật
để vận dụng thành thạo các tri thức hiểu biết
pháp luật trong thực tiễn cuộc sống.
Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật để mỗi chủ thể nhận thức đầy đủ bổn phận và
trách nhiệm của mình đối với Nhà nước và xã hội,
từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật;
tích cực và chủ động tham gia vào đời sống chính
trị - kinh tế - văn hóa, góp phần nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật có vai trò gì trong xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện (bảo
đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ, toàn
diện, tính phù hợp và khả thi, tính hiệu quả, ngôn
ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, chứa đựng
các giá trị dân chủ, nhân đạo, công bằng, vì mọi
người; các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội phải
28
được tôn trọng và bảo đảm thực hiện). Nhà nước
tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật; thực hiện quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa (các chủ thể có nghĩa vụ tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được
thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất, bình đẳng).
Trước những yêu cầu đó, tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng,
trực tiếp góp phần vào việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
Trước hết, đây là cách thức, biện pháp cơ bản,
có hiệu lực, hiệu quả nhất để đưa chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực và
kiểm nghiệm tính đúng đắn trong thực tiễn. Từ
thực tiễn triển khai, tổ chức thực hiện thể chế,
chính sách, quy định pháp luật để từ đó, phát hiện
những vấn đề còn vướng mắc, bất cập, những vấn
đề mới phát sinh hoặc không còn phù hợp để kịp
thời sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp.
Tiếp đến, công tác này thể hiện trách nhiệm
của Nhà nước, thể hiện bản chất Nhà nước ta là
Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
dân, là phương thức...
 





