BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VIDOE BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Menu chức năng 21

Ảnh ngẫu nhiên

Kttna.jpg Hctna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Định hướng nghề nghiệp 4.0 Vai trò của định hướng Nghề nghiệp

    ky-nang-tuyen-truyen-pho-bien-giao-duc-phap-luat...

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:59' 04-05-2024
    Dung lượng: 1.6 MB
    Số lượt tải: 14
    Số lượt thích: 0 người
    KỸ NĂNG
    TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
    GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
    DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ

    Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
    Chñ tÞch Héi ®ång
    pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû
    Phã Chñ tÞch Héi ®ång
    TS. HOµNG PHONG Hµ
    Thµnh viªn
    trÇn quèc d©n
    TS. NguyÔn §øC TµI
    TS. NGUYÔN AN TI£M
    NguyÔn Vò Thanh H¶o

    TS. ĐỖ XUÂN LÂN

    KỸ NĂNG
    TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
    GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
    DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ

    NHÀ XUẤT BẢN
    CHÍNH TRỊ QUÓC GIA

    NHÀ XUẤT BẢN
    VĂN HÓA DÂN TỘC

    CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN
    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ,
    lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, cán
    bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
    phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
    thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng,
    cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
    Để thực hiện tốt bổn phận và trách nhiệm này, một mặt
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ phải học hiểu lý
    luận, chính sách, tình hình trong nước và trên thế giới, để
    giáo dục cho quần chúng; phải học hiểu nghề nghiệp
    chuyên môn mà Đảng và Chính phủ giao cho mình phụ
    trách; đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân
    phục, dân yêu, phải kính dân, trọng dân, việc gì có lợi cho
    dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải
    hết sức tránh. Mặt khác, mỗi cán bộ, chính quyền và đoàn
    thể phải luôn luôn gần gũi Nhân dân, ra sức nghe ngóng
    và hiểu biết Nhân dân, học hỏi Nhân dân, lãnh đạo Nhân
    dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục,
    tổ chức Nhân dân, dựa vào Nhân dân để thực hiện
    nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
    Ngày 20-6-2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
    nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật
    phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, lần đầu tiên

    5

    quyền được thông tin về pháp luật của công dân được
    ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Theo đó, công dân có
    quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm
    chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Nhà nước bảo
    đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được
    thông tin về pháp luật. Về mặt chính sách, công tác phổ
    biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ
    thống chính trị, trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
    Trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và
    cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân là
    phải tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các
    khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật;
    gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật. Đồng thời,
    phải chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc tuyên
    truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt
    động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ và hỗ trợ, giúp đỡ
    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phổ biến, giáo
    dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực công tác.
    Cuốn sách Kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, giáo
    dục pháp luật dành cho cán bộ cơ sở do Nhà xuất
    bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất
    bản Văn hóa dân tộc do TS. Đỗ Xuân Lân biên soạn sẽ
    cung cấp những nhận thức cơ bản về vị trí, vai trò và
    trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã; về tuyên
    truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cùng những kỹ
    năng cơ bản giúp cán bộ, công chức cấp xã có điều kiện
    tham gia tích cực và chủ động hơn trong công tác này.
    Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 8 năm 2015
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT

    6

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
    VỀ TUYÊN TRUYỀN,
    PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
    DÀNH CHO CÁN BỘ CƠ SỞ
    A. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁN BỘ,
    CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
    1. Theo quy định của pháp luật, những
    người nào là cán bộ xã, phường, thị trấn?
    Theo điểm 3 Điều 4; khoản 2 Điều 61 Luật cán
    bộ, công chức năm 2008, cán bộ xã, phường, thị
    trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
    Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
    trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban
    nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người
    đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm các
    chức vụ sau đây:
    - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy.
    - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
    - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
    - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
    - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
    7

    - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
    - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (đối với cấp
    xã có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có
    tổ chức Hội Nông dân Việt Nam).
    - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
    2. Người nào là công chức cấp xã?
    Theo điểm 3 Điều 4; khoản 3 Điều 61 Luật cán
    bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã là công
    dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
    chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
    cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
    sách nhà nước, bao gồm các chức danh sau đây:
    - Trưởng Công an.
    - Chỉ huy trưởng Quân sự.
    - Văn phòng - thống kê.
    - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường
    (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông
    nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã).
    - Tài chính - kế toán.
    - Tư pháp - hộ tịch.
    - Văn hóa - xã hội.
    3. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp
    xã trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo
    dục pháp luật?
    Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng
    trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
    8

    Cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng,
    Nhà nước, đoàn thể với Nhân dân, là người trực
    tiếp được giao thực thi công tác dân vận, là tấm
    gương để mọi người noi theo. Lúc sinh thời, Chủ
    tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng viên và cán
    bộ nhất định phải làm cho quần chúng thấm
    nhuần tư tưởng cách mạng. Nhất định phải theo
    nhu cầu của quần chúng mà xây dựng những tổ
    chức cách mạng hợp với trình độ của quần chúng.
    Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công
    việc... Nhất định phải vào sâu trong quần chúng,
    hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần
    chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và
    tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”1.
    Cán bộ, công chức cấp xã là người đưa chủ
    trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
    nước, điều lệ, nghị quyết của các đoàn thể đến với
    Nhân dân; đồng thời, phát hiện những vướng mắc,
    bất cập trong các chủ trương, chính sách, các quy
    định của pháp luật và những vấn đề mới phát
    sinh và nắm bắt đầy đủ tâm tư, nguyện vọng
    chính đáng của Nhân dân để báo cáo lại cho Nhà
    nước, cho Đảng và đoàn thể mà mình là thành
    viên biết nhằm điều chỉnh chính sách, quy định
    cho phù hợp. Sinh thời, Bác Hồ từng khẳng định:
    “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,
    _______________
    1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8, tr.278.

    9

    của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ
    và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
    chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ,
    để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái
    gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ
    là công việc gốc của Đảng”1.
    Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực
    tiếp tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các công việc
    liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
    các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cơ sở. Hoạt động
    thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã có
    tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
    hợp pháp của công dân nên chất lượng hoạt động
    của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phản ánh
    mức độ phục vụ của Nhà nước đối với xã hội.
    Nhấn mạnh vai trò này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
    chỉ rõ: “Cán bộ quyết định mọi việc... Công việc
    thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng
    đạo đức, thái độ và lề lối làm việc...”2.
    4. Pháp luật quy định như thế nào về
    chức trách của công chức cấp xã?
    Theo Điều 1 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
    ngày 30-10-2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về
    chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển
    dụng công chức xã, phường, thị trấn (sau đây,
    _______________
    1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309; t.7,
    tr.415.

    10

    gọi tắt là Thông tư số 06/2012/TT-BNV) thì công
    chức cấp xã làm công tác chuyên môn thuộc biên
    chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm
    tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực
    hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công
    tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ
    khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
    Nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ, công chức
    nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, Chủ
    tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhiệm vụ của
    Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân
    dân. Nghĩa là làm đày tớ cho dân... Đã phụng sự
    nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là
    việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì
    hại cho dân, thì phải hết sức tránh. Lại phải hiểu
    và làm cho dân hiểu: Lợi ích tạm thời và lợi ích
    riêng, phải phục tòng lợi ích lâu dài và lợi ích
    chung. Lợi ích địa phương phải phục tòng lợi ích
    toàn quốc, toàn dân tộc. Muốn làm được như vậy,
    thì mỗi cán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:
    - Luôn luôn gần gũi Nhân dân.
    - Ra sức nghe ngóng và hiểu biết Nhân dân.
    - Học hỏi Nhân dân.
    - Lãnh đạo Nhân dân bằng cách tuyên truyền,
    giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức Nhân dân,
    dựa vào Nhân dân để thực hiện nguyện vọng
    chính đáng của Nhân dân”1.
    _______________
    1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.432.

    11

    5. Pháp luật quy định như thế nào về tiêu
    chuẩn đối với công chức cấp xã?
    Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số
    112/2011/NĐ-CP ngày 05-12-2011 của Chính phủ
    về công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt
    là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) thì công chức
    cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung sau đây:
    - Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững
    quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
    sách và pháp luật của Nhà nước;
    - Có năng lực tổ chức vận động Nhân dân ở địa
    phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối
    của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
    - Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn,
    nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc
    làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành
    nhiệm vụ được giao;
    - Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán
    của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.
    Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp
    xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn
    nêu trên còn phải có khả năng phối hợp với các
    đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và
    lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng
    nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số
    nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh,
    chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng,
    chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân
    dân, tài sản của Nhà nước.
    12

    Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV
    quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp
    xã như sau:
    - Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên.
    - Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ
    thông.
    - Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp
    chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp
    với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức
    được đảm nhiệm.
    - Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn
    phòng trình độ A trở lên.
    - Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác
    phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt
    động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân
    tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu
    khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu
    số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học
    tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công
    tác được phân công.
    - Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành
    lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà
    nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
    theo chương trình đối với chức danh công chức cấp
    xã hiện đảm nhiệm.
    Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư số 06/2012/
    TT-BNV quy định về tiêu chuẩn đặc thù của công
    chức cấp xã như sau:
    - Tiêu chuẩn đối với chức danh Chỉ huy trưởng
    13

    Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện
    theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối
    với các chức danh này. Trong trường hợp pháp
    luật chuyên ngành không quy định thì thực hiện
    theo tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã
    nêu trên.
    - Căn cứ vào tiêu chuẩn của công chức cấp xã
    và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân
    dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định:
    + Giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ
    chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã đã
    được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc
    khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
    vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều
    kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng
    thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào
    tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã
    theo quy định;
    + Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ
    của từng chức danh công chức cấp xã;
    + Thời gian để công chức cấp xã mới được
    tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc
    thiểu số; lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành
    chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận
    chính trị theo quy định.
    6. Quyền, nghĩa vụ chung của cán bộ, công
    chức cấp xã được quy định như thế nào?
    Điều 62 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
    14

    định, cán bộ, công chức cấp xã có các nghĩa vụ,
    quyền chung sau đây:
    - Thực hiện các nghĩa vụ, quyền theo quy định
    tại Luật cán bộ, công chức năm 2008, quy định
    khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ
    chức mà mình là thành viên.
    - Cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ
    được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ
    chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy
    định của pháp luật được xem xét chuyển thành
    công chức, trong trường hợp này, được miễn chế độ
    tập sự và hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu
    không được chuyển thành công chức mà chưa đủ
    điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực
    hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của
    pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được
    điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có
    thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải
    quyết chế độ theo quy định của pháp luật.
    7. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
    đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân được
    quy định như thế nào?
    Theo Điều 8 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
    đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, cán bộ, công
    chức cấp xã có các nghĩa vụ sau đây:
    - Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam,
    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
    bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
    15

    - Tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ
    Nhân dân.
    - Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý
    kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.
    - Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
    trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
    Nhà nước.
    8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
    trong thi hành công vụ được quy định như
    thế nào?
    Theo Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
    trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
    có các nghĩa vụ sau đây:
    - Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách
    nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
    hạn được giao.
    - Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp
    hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn
    vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện
    hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức,
    đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
    - Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi
    hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ
    chức, đơn vị.
    - Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết
    kiệm tài sản nhà nước được giao.
    - Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có
    căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì
    16

    phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra
    quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn
    quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và
    người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu
    trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng
    thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết
    định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm
    trước pháp luật về quyết định của mình.
    - Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
    9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức cấp xã
    là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
    được quy định như thế nào?
    Điều 10 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
    định, ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8,
    Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì cán
    bộ, công chức cấp xã là người đứng đầu cơ quan, tổ
    chức, đơn vị còn có các nghĩa vụ sau đây:
    - Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao
    và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ
    quan, tổ chức, đơn vị.
    - Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành
    công vụ của cán bộ, công chức.
    - Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng,
    chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết
    kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc
    để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong
    cơ quan, tổ chức, đơn vị.
    - Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật
    17

    về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ
    chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ,
    công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm
    kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch,
    cửa quyền, gây phiền hà cho công dân.
    - Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo
    thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm
    quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị
    của cá nhân, tổ chức.
    - Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
    10. Quyền được bảo đảm các điều kiện thi
    hành công vụ của cán bộ, công chức cấp xã
    được quy định như thế nào?
    Theo Điều 11 Luật cán bộ, công chức năm 2008,
    trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức cấp xã
    có quyền được bảo đảm các điều kiện sau đây:
    - Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
    - Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện
    làm việc khác theo quy định của pháp luật.
    - Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm
    vụ, quyền hạn được giao.
    - Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
    chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
    - Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.
    11. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
    tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền
    lương được quy định như thế nào?
    Về tiền lương và các chế độ liên quan đến
    18

    tiền lương, Điều 12 Luật cán bộ, công chức năm 2008
    quy định, cán bộ, công chức cấp xã được Nhà nước
    bảo đảm các quyền sau đây:
    - Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương
    xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp
    với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
    Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên
    giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
    thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
    biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có
    môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ
    cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của
    pháp luật.
    - Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm,
    công tác phí và các chế độ khác theo quy định của
    pháp luật.
    12. Quyền của cán bộ, công chức cấp xã về
    nghỉ ngơi được quy định như thế nào?
    Điều 13 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
    định, cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ
    lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của
    pháp luật về lao động.
    Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công
    chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số
    ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được
    thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương
    cho những ngày không nghỉ.
    19

    13. Pháp luật quy định như thế nào về các
    quyền khác của cán bộ, công chức cấp xã?
    Điều 14 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy
    định về các quyền khác của cán bộ, công chức cấp
    xã như sau:
    Cán bộ, công chức cấp xã được bảo đảm quyền
    học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt
    động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu
    đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm
    xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật;
    nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành
    công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách
    như thương binh hoặc được xem xét để công nhận
    là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của
    pháp luật.
    14. Đạo đức và văn hóa giao tiếp của cán
    bộ, công chức cấp xã được quy định như
    thế nào?
    - Về đạo đức, Điều 15 Luật cán bộ, công chức
    năm 2008 quy định, cán bộ, công chức cấp xã phải
    thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
    trong hoạt động công vụ.
    - Về văn hóa giao tiếp ở công sở, Điều 16 Luật
    cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
    + Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức
    20

    phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn
    ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
    + Phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công
    bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá;
    thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.
    + Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải
    mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong
    lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ
    chức, đơn vị và đồng nghiệp.
    - Về văn hóa giao tiếp với Nhân dân, Điều 17
    Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
    + Phải gần gũi với Nhân dân; có tác phong,
    thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ
    giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
    + Không được hách dịch, cửa quyền, gây khó
    khăn, phiền hà cho Nhân dân khi thi hành công vụ.
    15. Những việc nào cán bộ, công chức cấp
    xã không được làm?
    Cán bộ, công chức cấp xã không được làm
    những việc sau đây:
    - Những việc không được làm liên quan đến
    đạo đức công vụ (Điều 18 Luật cán bộ, công chức
    năm 2008):
    + Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ
    được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc
    hoặc tham gia đình công.
    21

    + Sử dụng tài sản của Nhà nước và của Nhân
    dân trái pháp luật.
    + Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử
    dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
    + Phân biệt đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần
    xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
    - Những việc không được làm liên quan đến bí
    mật nhà nước (Điều 19 Luật cán bộ, công chức
    năm 2008):
    + Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí
    mật nhà nước dưới mọi hình thức.
    + Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề
    có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời
    hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định
    nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có
    liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình
    đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước,
    tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với
    nước ngoài.
    - Những việc không được làm khác (Điều 20
    Luật cán bộ, công chức năm 2008):
    Cán bộ, công chức không được làm những việc
    liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác
    nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham
    nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
    và những việc khác theo quy định của pháp luật
    và của cơ quan có thẩm quyền, ví dụ:
    22

    Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng năm
    2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 20121 quy định
    những việc cán bộ, công chức, viên chức không
    được làm như sau:
    - Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền
    hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong
    khi giải quyết công việc.
    - Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia
    quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty
    trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
    hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư
    và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp
    pháp luật có quy định khác.
    - Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
    khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có
    liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác,
    _______________
    1. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã
    được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005 là Luật
    số 55/2005/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
    của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2007 đã
    được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    khóa XII, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 04-8-2007 là
    Luật số 01/2007/QH12: Luật sửa đổi, bổ sung một số
    điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012
    đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
    Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23-11-2012
    là Luật số 27/2012/QH13.

    23

    những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
    mình hoặc mình tham gia giải quyết.
    - Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây
    mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức
    vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định
    của Chính phủ.
    - Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ
    quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.
    Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
    cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không
    được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong
    phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực
    hiện việc quản lý nhà nước.
    Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
    cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc
    chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ
    chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
    vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức,
    đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá,
    ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
    Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
    cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ,
    con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý
    trực tiếp.
    - Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên
    Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng
    giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán
    trưởng và những cán bộ quản lý khác trong
    doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết
    24

    hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ
    hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho
    phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc
    chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự
    các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ
    hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ
    chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài
    vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp
    hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết
    hợp đồng cho doanh nghiệp.
    - Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 37
    Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi,
    bổ sung năm 2007, 2012 cũng được áp dụng đối với
    các đối tượng sau đây:
    + Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
    quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
    nhân dân;
    + Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ
    quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị
    thuộc Công an nhân dân.
    B. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN,
    PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
    1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
    luật là gì?
    Tuyên truyền pháp luật là việc công bố, giới
    thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật để mọi
    25

    người biết; động viên, thuyết phục để mọi người
    tin tưởng và thực hiện đúng pháp luật1.
    Phổ biến pháp luật có hai nghĩa: Nghĩa hẹp là
    giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối
    tượng của nó; nghĩa rộng là truyền bá pháp luật
    cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước2.
    Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có
    tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động
    lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và
    thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri
    thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các
    đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành3.
    Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có
    hai nghĩa:
    Nghĩa thứ nhất: Là truyền đạt tinh thần, nội
    dung pháp luật, giúp cho đối tượng tác động hiểu,
    tin tưởng và hình thành ở họ tri thức pháp luật,
    tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các
    quy định pháp luật hiện hành.
    _______________
    1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cẩm nang công tác phổ
    biến, giáo dục pháp luật (Dành cho cán bộ quản lý, báo cáo
    viên, cán bộ phụ trách công tác phổ biến, giáo dục pháp
    luật ngành giáo dục), Hà Nội, 2007, tr.2.
    2. Dự án VIE/98/001 “Tăng cường năng lực pháp luật
    tại Việt Nam - giai đoạn II”: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ
    phổ biến, giáo dục pháp luật (kỷ yếu dự án), Hà Nội, 2002,
    tr.7.
    3. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật,
    Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1998, tr.9.

    26

    Nghĩa thứ hai: Là công tác, lĩnh vực hoạt
    động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho
    việc thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
    pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch;
    triển khai chương trình, kế hoạch thông qua
    việc áp dụng các hình thức, biện pháp tuyên
    truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn,
    kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện
    chương trình, kế hoạch)1.
    2. Mục đích của tuyên truyền, phổ biến,
    giáo dục pháp luật là gì?
    Trước hết, thông qua tuyên truyền, phổ biến,
    giáo dục pháp luật nhằm truyền tải, cung cấp
    những thông tin, những nội dung và các quy định
    của pháp luật đến với các cơ quan, tổ chức, cá
    nhân, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu biết,
    nắm bắt kịp thời về các quy định của pháp luật mà
    không phải mất nhiều thời gian, công sức cho việc
    tự tìm hiểu, tự học tập. Đó là phương tiện hỗ trợ
    tích cực việc hình thành, làm sâu sắc và từng bước
    mở rộng hệ thống tri thức hiểu biết pháp luật.
    Thứ hai, qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
    pháp luật, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hình
    thành lòng tin vào pháp luật, có thái độ, tình cảm
    pháp luật đúng đắn; hình thành động cơ của hành
    _______________
    1. Bộ Tư pháp: Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
    cho cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, Sđd, tr.9.

    27

    vi hợp pháp - hành vi tích cực pháp luật. Từ đó,
    mỗi người hình thành thói quen tuân theo những
    quy định của pháp luật (kiềm chế không thực hiện
    những hành vi bị pháp luật cấm đoán); thói quen
    thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và sử dụng
    các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ
    quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của chủ thể
    khác và toàn xã hội; thói quen áp dụng pháp luật
    để vận dụng thành thạo các tri thức hiểu biết
    pháp luật trong thực tiễn cuộc sống.
    Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
    luật để mỗi chủ thể nhận thức đầy đủ bổn phận và
    trách nhiệm của mình đối với Nhà nước và xã hội,
    từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật;
    tích cực và chủ động tham gia vào đời sống chính
    trị - kinh tế - văn hóa, góp phần nâng cao hiệu lực
    và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
    3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
    luật có vai trò gì trong xây dựng Nhà nước
    pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
    phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện (bảo
    đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ, toàn
    diện, tính phù hợp và khả thi, tính hiệu quả, ngôn
    ngữ và kỹ thuật xây dựng pháp luật, chứa đựng
    các giá trị dân chủ, nhân đạo, công bằng, vì mọi
    người; các quyền con người, quyền công dân về
    chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội phải
    28

    được tôn trọng và bảo đảm thực hiện). Nhà nước
    tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
    và pháp luật; thực hiện quản lý xã hội bằng pháp
    luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ
    nghĩa (các chủ thể có nghĩa vụ tuân thủ Hiến
    pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được
    thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất, bình đẳng).
    Trước những yêu cầu đó, tuyên truyền, phổ biến,
    giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng,
    trực tiếp góp phần vào việc xây dựng Nhà nước
    pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
    Trước hết, đây là cách thức, biện pháp cơ bản,
    có hiệu lực, hiệu quả nhất để đưa chủ trương,
    đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
    Nhà nước đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực và
    kiểm nghiệm tính đúng đắn trong thực tiễn. Từ
    thực tiễn triển khai, tổ chức thực hiện thể chế,
    chính sách, quy định pháp luật để từ đó, phát hiện
    những vấn đề còn vướng mắc, bất cập, những vấn
    đề mới phát sinh hoặc không còn phù hợp để kịp
    thời sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp.
    Tiếp đến, công tác này thể hiện trách nhiệm
    của Nhà nước, thể hiện bản chất Nhà nước ta là
    Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
    dân, là phương thức...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là nguồn nhiệt huyết và ngọn lửa tri thức của nhân loại. (Henry David Thoreau)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT ĐỒNG LỘC - HÀ TĨNH !